Điểm báo ngày 8/6/2023
Phóng to Thu nhỏ In

I. Vấn đề Quốc hội quan tâm

1. Các báo Công an nhân dân (7/6) có bài“Bộ trưởng Bộ Tài chính lý giải căn cứ chi ngân sách cho khoa học và công nghệ”; Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (76) có bài “Có địa phương không bố trí vốn hoặc bố trí tỷ lệ rất thấp cho khoa học công nghệ”; Kinh tế và đô thị (7/6) có bài “Phó Thủ tướng: Ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học công nghệ chưa hiệu quả” và một số báo khác cho biết: Tại phiên chất vấn chiều 7/6, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã phát biểu làm rõ thêm về chi ngân sách cho hoạt động khoa học công nghệ (KHCN).

Theo Bộ trưởng, năm 2023, việc bố trí ngân sách chi cho KHCN chiếm 0,82%, chi đầu tư là 0,23%, chi thường xuyên là 0,58%. Năm 2022, tỷ lệ chi ngân sách là 1,01%.

Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cho biết, việc kiểm soát chi chuyển từ khoản chi theo hóa đơn chứng từ hồ sơ sang chi theo bảng kê công việc. Điều đó cho thấy cơ chế mở trong thực hiện khoán chi trong KHCN, tuy nhiên hiện nay vẫn còn những tồn tại trong quá trình tuyển chọn, giao đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, nên kinh phí giao muộn. Bên cạnh đó, việc thực hiện giao khoán lại thực hiện theo hướng hồ sơ chứng từ, gây khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học.

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Bộ Tài chính sẽ phối hợp cùng các Bộ, ngành khác để sửa Nghị định số 95/2014/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT/BKHCN-BTC để phù hợp hơn và trên cơ sở lấy ý kiến của nhà khoa học, nhân dân để sửa các quy định của pháp luật để đảm bảo thông thoáng chủ động, căn cứ vào kết quả đầu ra của công việc để thực hiện hiệu quả.

Về cơ chế quản lý khoa học công nghệ, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho rằng, cần thiết kế hoàn thiện lại để phù hợp hơn, cụ thể là đối với Nhà nước, nên đặt hàng và thanh toán theo sản phẩm đặt hàng, việc đặt hàng có thể thực hiện đấu thầu, có thể chỉ định thầu, qua đó lập dự toán, căn cứ từ đó chọn những tổ chức nghiên cứu đảm bảo được sản phẩm đầu ra, giúp việc thanh toán được thuận lợi hơn. Cùng với đó, cần quy định việc chuyển giao, ứng dụng đề tài nghiên cứu vào thực tiễn để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

II. Vấn đề về thuế

2. Báo Công an nhân dân (8/6) có bài “Xây dựng Trung tâm cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử để phòng ngừa mua bán khống hóa đơn” cho biết: Nhằm phát hiện sớm trường hợp mua bán hóa đơn bất hợp pháp, ngành Thuế đã đẩy mạnh quản lý hóa đơn dựa trên kết quả phân tích rủi ro theo các tiêu chí đánh giá để xác định người nộp thuế có rủi ro cao là có nhiều dấu hiệu nghi ngờ gian lận trong sử dụng hóa đơn để đưa vào thanh tra, kiểm tra. Cùng với đó, ngành Thuế cũng thực hiện các chức năng kiểm soát thông tin hóa đơn điện tử, kiểm tra các dấu hiệu cảnh báo sớm giúp đưa ra các trường hợp cần giám sát, kiểm tra thường xuyên. Đáng chú ý, Tổng cục Thuế đã nghiên cứu áp dụng công nghệ xử lý dữ liệu lớn, công nghệ trí tuệ nhân tạo vào thực hiện phân tích dữ liệu hóa đơn điện tử để quản lý rủi ro, phát hiện gian lận, nghi ngờ mua bán hóa đơn….

3. VTV.vn, Chinhphu.vn, Thanh tra (8/6) có bài“Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi mới áp dụng từ 15/7/2023” cho biết: Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2023/NĐ-CP Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp và thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.

Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ban hành kèm theo 4 phụ lục: Phụ lục I - Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế; Phụ lục II - Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế; Phụ lục III - Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp đối với mặt hàng xe ô tô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống, đã qua sử dụng; Phụ lục IV - Danh mục hàng hóa và mức thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan đối với các mặt hàng thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Trong đó, Nghị định quy định Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gồm mã số hàng hóa (mã hàng), mô tả hàng hoá, mức thuế suất thuế xuất khẩu quy định cho từng nhóm mặt hàng, mặt hàng chịu thuế xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không có tên trong Biểu thuế xuất khẩu thì người khai hải quan khai mã hàng của hàng hoá xuất khẩu tương ứng với mã hàng 08 chữ số của hàng hóa đó theo Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại Mục I Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này và không phải khai thuế suất trên tờ khai hàng hoá xuất khẩu.

4. Kênh Truyền hình Thông tấn- TTXVN (8/6) có phóng sự “Giảm 50% phí trước bạ với ô tô trong nước”; VTV.vn (7/6) có tin “Chính phủ chỉ đạo giảm 50% phí trước bạ với ô tô trong nước”; Sài Gòn giải phóng online (8/6) có bài “Thủ tướng chỉ đạo giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô trong nước”; Tiền phong online (7/6) có bài “Phó Thủ tướng: Giảm 50% lệ phí trước bạ ô tô từ 1/7”; Tạp chí Công thương (8/6) có bài “Phó Thủ tướng chỉ đạo trước 15/6 trình Chính phủ phương án giảm lệ phí trước bạ ô tô” và nhiều báo khác đưa tin: Ngày 7/6, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ về mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước theo hướng giảm 50% và áp dụng kể từ 1/7 đến hết năm.

"Bộ Tài chính trình Chính phủ trước ngày 15/6. Bộ Tư pháp thẩm định kịp thời dự thảo Nghị định trên ngay sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ của Bộ Tài chính, đảm bảo thời hạn trình Chính phủ trước 15/6", văn bản nêu rõ.

5. Báo Đại đoàn kết (8/6) có bài “Vụ án tại Công ty cổ phần phát triển nhà Thủ Đức: Cựu công chức Cục thuế sai phạm gì?”, Sài Gòn Giải phóng (8/6) có bài “Xét xử vụ Thuduc House: Cựu cán bộ thuế nhận tiền để bỏ qua nhiều sai phạm” thông tin: Ngày 7/6, TAND TP HCM tiếp tục ngày làm việc thứ 2 xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Bích Hạnh (54 tuổi) - cựu Phó Cục trưởng Cục Thuế TP HCM cùng 66 bị cáo đồng phạm trong các sai phạm xảy ra tại Công ty CP Phát triển nhà Thủ Đức (Thủ Đức House), Công ty Sài Gòn Tây Nam và Cục Thuế TP HCM.

Bị cáo Nguyễn Thị Bích Hạnh bị Viện KSND truy tố về tội “vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí”. Trong đó, bị cáo có hành vi ký tổng cộng 15 quyết định hoàn Thuế Giá trị gia tăng trong thời gian từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2019 trái quy định. Hành vi này bị cáo buộc gây thất thoát cho nhà nước số tiền là 331 tỷ đồng.

Trong nhóm các bị cáo thuộc ngành Thuế TPHCM, còn có các cựu cán bộ thuế công tác tại Chi cục Thuế quận 1, quận 3 và quận 5 bị cáo buộc hành vi nhận hối lộ hơn 7 tỷ đồng để bỏ qua nhiều dấu hiệu sai phạm của các công ty thuộc địa bàn quản lý.

III. Vấn đề về quản lý giá

6. Báo Thanh tra (8/6) có bài“Phập phồng nỗi lo tăng giá trước thềm tăng lương” cho biết: Từ ngày 1/7/2023, mức lương cơ sở đối với người hưởng lương từ ngân sách sẽ tăng lên mức 1,8 triệu đồng/tháng, tương đương tăng 20,8%. Dẫu biết tăng lương là tín hiệu đáng mừng, nhưng như một “kịch bản” định sẵn, những lo lắng khi mỗi lần lương tăng thì giá cả cũng tăng lại trở thành hiện thực…

Có lẽ vì vậy, dù việc tăng lương là tín hiệu rất đáng mừng, thế nhưng, nhiều người được hưởng lương lại buồn vui xen lẫn, bởi đi kèm với niềm vui lương cơ sở được tăng kể từ tháng 7 là nỗi lo giá cả cũng tăng theo. Thậm chí, lương chưa tăng, giá cả đã tăng. Như một “kịch bản", những lo lắng lương tăng thì giá cả cũng tăng lại trở thành hiện thực.

Không chỉ giá điện, giá nước cũng có xu hướng tăng. Đi liền với nỗi lo giá điện, nước tăng, với nhiều nhà có con vào đại học lại thêm một mối lo khi tháng 10 tới học phí cũng sẽ tăng, kéo theo chi phí sinh hoạt trong gia đình cũng tăng theo. Không chỉ thế, ngoài thị trường, lấy lý do nhiều yếu tố khách quan tác động nên không ít mặt hàng cũng bắt đầu rục rịch tăng theo, làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Theo Bộ Tài chính, việc tăng lương cơ sở là rất ý nghĩa và cần thiết trong thời điểm này, để kịp thời hỗ trợ người lao động yên tâm làm việc sau đại dịch COVID-19, phù hợp với nguyện vọng của người dân và tình hình kinh tế - xã hội đất nước.

Tuy nhiên, để việc tăng lương thực sự là niềm vui trọn vẹn, góp phần nâng cao đời sống, khuyến khích người lao động hăng say công tác, theo các chuyên gia, trước thông tin tăng lương cơ sở, cần tăng cường các giải pháp kiềm chế lạm phát, bình ổn giá đi kèm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát chặt về giá, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Bên cạnh đó, còn có những chính sách xã hội khác để thu nhập của người lao động đảm bảo cuộc sống, đảm bảo tái tạo sức lao động, đảm bảo tích cực cống hiến. Đồng thời, tiếp tục thực thi hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động, tăng cường hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.

IV. Vấn đề về trái phiếu doanh nghiệp

7. Báo Diễn đàn doanh nghiệp (7/6) có bài““Phá băng” trái phiếu doanh nghiệp” cho biết: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) vẫn còn trầm lắng nên cần tiếp tục giải pháp mạnh hơn để “phá băng” thị trường.

Theo dữ liệu Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), tính đến 26/5/2023, chưa có đợt phát hành TPDN nào được ghi nhận trong tháng 5/2023. Từ đầu năm đến nay, tổng giá trị phát hành TPDN là 31.658 tỷ đồng, với 7 đợt phát hành công chúng trị giá 5.521 tỷ đồng (chiếm 17% tổng giá trị phát hành) và 15 đợt phát hành riêng lẻ trị giá 26.137 tỷ đồng (chiếm 83% tổng số). Như vậy, lượng phát hành chủ yếu tập trung nửa cuối tháng 3, với hiệu ứng tức thời của Nghị định số 08/2023/NĐ-CP.

Chuyên gia tài chính Nguyễn Lê Ngọc Hoàn cho rằng, nhìn chung tình hình khó khăn của phát hành mới lẫn chậm trả nợ cũ sẽ tiếp tục gia tăng và tập trung ở nhóm phi ngân hàng. Theo đó, thị trường có thể sẽ phải chờ các ngân hàng triển khai tích cực cơ cấu nợ, từ đó dần lan tỏa ra thị trường vốn. Cùng với đó là các ngân hàng một khi xây dựng được khung, tiêu chí xác nhận xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, thì mới mạnh dạn mua lại trái phiếu.

8. Báo Diễn đàn doanh nghiệp (7/6) có tin“Ngân hàng sẽ “đánh thức” trái phiếu” cho biết: Tổng giá trị trái phiếu đã được các doanh nghiệp mua lại trước hạn lũy kế từ đầu năm đến nay đạt 68.130 tỷ đồng (tăng 62,4% so với cùng kỳ năm 2022). Tuy nhiên, trong khi nhóm chậm trả trái phiếu tính đến cuối tháng 4 là 98 doanh nghiệp thì kết quả mua lại của nhóm ngân hàng cũng nhen nhóm hy vọng tín hiệu mới cho thị trường. Đến gần cuối tháng 5, các doanh nghiệp đã mua lại 17.206 tỷ đồng trái phiếu, trong đó, nhóm ngân hàng chiếm 54%.

V. Vấn đề về chứng khoán

9. Báo Người lao động (8/6) có bài “Hô hào mua cổ phiếu: Cảnh giác” cho biết: Thị trường chứng khoán vừa sôi động trở lại đã xuất hiện tình trạng mạo danh công ty chứng khoán để lừa đảo, dụ nhà đầu tư. Không chỉ vậy, nhiều hội, nhóm bắt đầu mời chào, kêu gọi nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán, hô hào mua vào một số mã “siêu cổ phiếu”.

Để hạn chế tình trạng trên, ông Huỳnh Minh Tuấn, Giám đốc môi giới Hội sở Công ty Chứng khoán Mirae Asset góp ý, cần nhanh chóng đưa vào định danh nhân viên tư vấn và môi giới để khách hàng tiếp cận được kênh thông tin chính thống. Cơ quan quản lý cũng cần đẩy mạnh truyền thông về giao dịch và đầu tư với sự phối hợp của các công ty chứng khoán bởi đây là kênh đầu tư chính thống và đang được quan tâm. Bên cạnh kiểm soát chặt giấy phép hành nghề, cần có giải pháp đồng bộ để phát huy vai trò giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý. Bản thân nhà đầu tư cũng cần tự nâng cao kiến thức khi tham gia kênh đầu tư này.

VI. Vấn đề về hải quan

10. Các báo: Tiền phong online (7/6) có bài “5 tháng, hải quan bắt giữ hơn nửa tấn ma túy”; Pháp luật TP HCM online (7/6) có tin “Hải quan bắt giữ hàng hóa vi phạm trị giá hơn 2.000 tỉ đồng”; Lao động online (7/6) có bài “Hải quan phát hiện, thu giữ hơn nửa tấn ma tuý trong 5 tháng đầu năm” và một số báo khác cho biết: Tổng cục Hải quan cho biết, tình hình buôn lậu, vận chuyển ma túy về Việt Nam đang rất phức tạp. Chỉ trong 5 tháng đầu năm, lực lượng hải quan đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị bắt giữ khoảng 550kg ma túy các loại, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng cục Hải quan nhận định, tình hình vận chuyển trái phép ma túy sẽ tiếp tục nóng trong thời gian tới. Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị tiếp tục tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên các tuyến biên giới, vùng biển, hàng không và địa bàn nội địa…

VII. Vấn đề về đầu tư công

11. Các báo Chính phủ (8/6) có bài “Giải ngân vốn đầu tư công 5 tháng đầu năm ước đạt 22,37% kế hoạch”; Công lý (8/6) có bài “giải ngân vốn đầu tư công 5 tháng đạt hơn 20% kế hoạch”; Tuần tin tức (8/6) có bài “Sốt ruột giải ngân vốn đầu tư công” cho biết: Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 5 tháng đầu năm nay giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 22,37%. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương phấn đấu giải ngân vốn đầu tư công đạt 95% kế hoạch năm 2023. Vấn đề giải ngân vốn đầu tư công không còn là nhiệm vụ riêng của một Bộ, ngành, địa phương nào mà trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị với mục tiêu lấy giải ngân làm động lực phát triển kinh tế - xã hội. Hàng loạt tổ công tác cấp Trung ương được thành lập để bắt tay ngay vào việc kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thuộc tổ quản lý để nắm bắt các khó khăn vướng mắc và kịp thời đưa ra giải pháp tháo gỡ.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, mục tiêu tăng trưởng 6,5% năm 2023 không hề dễ dàng, nhất là trước tình hình biến động, bất định của kinh tế thế giới. Một trong những động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay là giải ngân vốn đầu tư công. Năm 2023, Thủ tướng đặt mục tiêu phấn đấu giải ngân vốn đầu tư công năm 2023 trên 95% kế hoạch. Trong khi đó, tổng kế hoạch vốn NSNN năm 2023 là gần 711.700 tỷ đồng, tăng hơn 130.000 tỷ đồng so với năm 2022. Nếu khối lượng vốn này được bơm ra thị trường sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Theo tính toán, cứ 1% giải ngân đầu tư công năm nay cao hơn năm trước thì đóng góp vào tăng trưởng GDP 0,058%. Như vậy, nếu giải ngân được 95% kế hoạch nguồn vốn có thể thúc đẩy tăng trưởng 1,2-1,3% GDP, bù đắp lớn cho sự sụt giảm xuất khẩu do ảnh hưởng tổng cầu thế giới.

Theo thông tin mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện có 8 Bộ và 23 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 25%. Một số Bộ, địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt cao gồm: Tiền Giang (45,89%), Đồng Tháp (44,28%), Long An (40,06%, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (40,04%)…Đặc biệt, vẫn còn 39 Bộ và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 15%, trong đó có 32 Bộ và 5 địa phương chỉ giải ngân được dưới 10% kế hoạch vốn. Bộ Tài chính cho biết có nhiều nguyên nhân làm chậm giải ngân như một số dự án phải điều chỉnh phương án kết cấu để đáp ứng yêu cầu phòng cháy chữa cháy; ảnh hưởng của chiến tranh Ukaraine- Nga đến chuỗi cung ứng toàn cầu dẫn đến chậm nhập khẩu các vật tư, thiết bị kĩ thuật, đồng thời làm tăng giá đột biến nhiên liệu, vật liệu…

Hữu Nghĩa

Theo Trang tin điện tử Bộ Tài chính